Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống, quyết định sự thành
công trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên
quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt.
Nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với
sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Do đó con
người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên nước.
Hiện nay, đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên nước, đưa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả các thành viên trong xã hội nâng cao ý thức, cùng hành động tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Bảo vệ tài nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách, nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài, vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và con cháu sau này.
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
I. PHÂN BỐ CỦA NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT
Lượng nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương, 3,5% còn lại phân bố ở đất liền.
Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được rất ít và chỉ có thể khai thác được từ các nguồn sau:
1. Nước ngọt trên bề mặt đất:
- Lượng nước mưa rơi xuống mặt đất,
- Nước tồn tại trong các sông, rạch, ao, hồ,
- Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết.
Sự phân bố của nước trên đất liền
2. Nước ngọt trong lòng đất:
Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước ngọt, trong đó nước ngọt chỉ
có lưu lượng nhất định. Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe
hở đất đá.

Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất
a) Tầng chứa nước:
Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính
thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu
của mình gọi là các tầng chứa nước.
b) Tầng cách nước:
Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả
năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp.
II. TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc, đây là một ưu điểm để
phát triển kinh tế vì chúng không những cung cấp lượng nước ngọt khá lớn cho
nền kinh tế nước nhà mà còn giúp tăng cường hệ thống giao thông thủy. Toàn Việt
Nam có 9 hệ thống sông lớn: Sông Cửu Long, sông Đồng Nai, sông Mã, sông Cả,
sông Thái Bình, sông Thu Bồn, sông Ba. Lượng nước có thể chủ động sử dụng là
325x109 m3/ngày. Ngoài ra còn có 460 hồ vừa và lớn.
Hàng năm, Việt Nam có lượng mưa trung bình là 2.050 mm trong năm, cao nhất là
2.640mm và thấp nhất là 1.600 mm và tập trung chủ yếu vào các tháng 7,8 và 9
chiếm đến 90% lượng mưa của cả năm, đây là nguồn nước ngọt dồi dào bổ cấp cho
nước sông rạch và nước dưới đất .
Trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam dồi dào, nằm trong các tầng chứa nước. Trữ
lượng nước dưới đất theo các tài liệu thăm dò vào khoảng 1,2x109 m3/ngày, thăm
dò sơ bộ là 15x109 m3/ngày.
Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy, nhiều tỉnh thành trong cả nước đang khai
thác nước dưới đất với lưu lượng khá lớn sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất Công
nghiệp, Nông nghiệp Dịch vụ.
• Hà Nội : 750 000 m3/ngày
• Thành phố Hồ Chí Minh : 1.600.000 m3/ngày
• Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày
III. TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Nước mặt:
Là nguồn nước từ các Sông lớn như Sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông với hệ
thống kênh rạch dài khoảng 7.880km, tổng diện tích mặt nước 35.500 ha. Nước
nhạt được khai thác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất.
2. Nước dưới đất:
Riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất
tại các tầng chứa nước là: 2.501.059m3/ngày. Phân bổ như sau:
Trữ lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước
(đơn vị tính:1000m3/ngày)

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 100.000 giếng khai thác nước ngầm, đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen. 56,61% tổng lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt.
CHƯƠNG 2
CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC - MỘT SỐ BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NƯỚC
Nguồn nước có thể sử dụng được cho các mục đích khác nhau của con người, chúng ta phải xác định các tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước để đánh giá chất lượng nguồn nước. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước dựa vào các yếu tố sau:
I. TÍNH CHẤT VẬT LÝ
1. Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước ổn định và phụ thuộc vào điều
kiện môi trường. Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến quá trình xử lý và các nhu
cầu tiêu thụ.
2. Độ màu: Màu của nước do các chất lơ lửng trong nước tạo nên, các chất lơ
lửng này có thể là thực vật hoặc các chất hữu cơ dưới dạng keo. Độ màu không
gây độc hại đến sức khỏe.
3. Độ đục: Độ đục để đánh giá sự có mặt của các chất lơ lửng trong nước ảnh
hưởng đến độ truyền ánh sáng. Độ đục không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh
hưởng đến quá trình lọc và khử trùng nước.
4. Mùi vị: Các chất khí, khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho
nước có mùi. Các mùi vị thường gặp: mùi đất, mùi tanh, mùi thúi, mùi hóa học
đặc trưng như Clo, amoniac, vị chát, mặn, chua…
5. Cặn: Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ), cặn không gây độc
hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước.
6. Tính phóng xạ: Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên, thường
nước này vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh. Nhưng nếu chỉ tiêu này bị
nhiễm bởi các chất phóng xạ từ nước thải, không khí, từ các chất độc hại vượt
quá giới hạn cho phép thì rất nguy hiểm.
II. TÍNH CHẤT HÓA HỌC
1. Độ pH: Phản ánh tính axit hay tính kiềm của nước. pH ảnh
hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước, tính ăn mòn, tính hòa tan.
2. Độ axít: Trong nước thiên nhiên độ axít là do sự có mặt của CO2, CO2 này
hấp thụ từ khí quyển hoặc từ quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải
công nghiệp (chiếm đa số) và nước phèn. Độ axít không gây độc hại đến sức khỏe
con người nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước cấp và nước thải.
3. Độ kiềm: do 3 ion chính HCO3-, OH-, CO32-làm cho nước có độ kiềm. Nước có
độ kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người. Độ kiềm
ảnh hưởng đến quá trình keo tụ, khử sắt, làm mềm nước, kiểm tra độ ăn mòn, khả
năng đệm của nước thải, của bùn.
4. Độ cứng: Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+. Độ cứng
không gây độc hại đến sức khỏe con người, nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ
tiêu hao nhiều xà bông khi giặt đồ, tăng độ ăn mòn đối với các thiết bị trao
đổi nhiệt, nồi hơi tạo nên cặn bám, khe nứt gây nổ nồi hơi.
5. Clorua (Cl-): Clorua trong nước biểu thị độ mặn. Clorua không gây độc hại
đến sức khỏe con người nhưng dùng lâu sẽ gây nên bệnh thận.
6. Sunfat (SO42-): Sunfat tiêu biểu cho nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nước có
nguồn gốc khoáng chất hoặc hữu cơ. Sunfat gây độc hại đến sức khỏe con người
vì sunfat có tính nhuận tràng. Nước có Sunfat cao sẽ có vị chát, uống vào sẽ
gây bệnh tiêu chảy.
7. Sắt (Fe2+, Fe3+): Sắt tồn tại trong nước dạng sắt 3 (dạng keo hữu cơ, huyền
phù), dạng sắt 2 (hòa tan). Sắt cao tuy không gây độc hại đến sức khỏe con người
nhưng nước sẽ có mùi tanh khó chịu và nổi váng bề mặt, làm vàng quần áo khi
giặt, hư hỏng các sản phẩm ngành dệt, giấy, phim ảnh, đồ hộp, đóng cặn trong
đường ống và các thiết bị khác làm tắc nghẽn các ống dẫn nước.
8. Mangan (Mg2+): Mangan có trong nước với hàm lượng thấp hơn sắt nhưng cũng
gây nhiều trở ngại giống như sắt.
9. Ôxy hòa tan (DO): Ôxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt
độ, áp suất và đặc tính của nguồn nước (thành phần hóa học, vi sinh, thủy sinh).
Xác định lượng ôxy hòa tan là phương tiện để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu
quả xử lý.
10. Nhu cầu ôxy hóa học (COD): Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hết các hợp
chất hữu cơ có trong nước. Nước nhiễm bẩn sẽ có độ ôxy hóa cao phải tốn nhiều
hóa chất cho công tác khử trùng.
11. Nhu cầu Ôxy sinh hóa (BOD): Là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân
hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự
làm sạch của nguồn nước. BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng.
12. Florua (F-): Trong thiên nhiên, các hợp chất của florua khá bền vững, ít
bị phân hủy bởi quá trình làm sạch. Nếu thường xuyên dùng nước có florua lớn
hơn 1,3mg/l hoặc nhỏ hơn 0,7mg/l đều dễ mắc bệnh hư hại men răng.
13. Dihydro sunfua (H2S): Khí này là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất
hữu cơ, rác thải. Khí này làm nước có mùi trứng thối khó chịu, với nồng độ cao,
nó có tính ăn mòn vật liệu.
14. Các hợp chất của axít Silicic (Si): trong nước nếu có các hợp chất axit
silicic sẽ rất nguy hiểm do cặn silicát lắng động trên thành nồi, thành ống
làm giảm khả năng truyền nhiệt và gây tắc ống.
15. Phốt phát (PO42-): Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ. Trong môi trường
tự nhiên, phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng
thuốc diệt côn trùng, các vũ khí hóa học. Phốt phát làm hóa chất bón cây, chất
kích thích tăng trưởng, chất tạo bọt trong bột giặt, chất làm mềm nước, kích
thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật, phiêu sinh vật, tảo… phốt phát gây
nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng.
16. Nitơ (N) và các hợp chất chứa Nitơ (NH4+, NO2-, NO3-): Sự phân hủy của rác
thải, các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp tạo
thành các sản phẩm amoniac, nitrít, nitrát. Sự hiện diện của các hợp chất này
là chất chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước.
17. Kim loại nặng: có mặt lợi và mặt hại:
- Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích, giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của
cơ thể.
- Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc.
18. Các thành phần độc hại khác: Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong
nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người,
thậm chí gây tử vong, đó là các chất: Asen (As), Berili (Be), Cadimi (Cd), Xyanua
(CN), Crôm (Cr), Thủy ngân (Hg), Niken (Ni), Chì (Pb), Antimoan (Sb), Selen
(Se), Vanadi (V). Một vài gam thủy ngân hoặc Cadimi có thể gây chết người, với
hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của cơ thể cho tới lúc đủ
hàm lượng gây ngộ độc. Chì tích lũy trong xương, Cadimi tích lũy trong thận
và gan, thủy ngân tích lũy trong các tế bào não.
19. Chất béo và dầu mỡ: Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng. Chất
béo đưa vào nguồn nước từ các nguồn nước thải, các lò sát sinh, công nghiệp
sản xuất dầu ăn, lọc dầu, chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào
nước, giết các vi sinh vật cần thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước.
20. Thuốc diệt cỏ và trừ sâu: Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm
vùng canh tác còn có khả năng lan rộng theo dòng chảy, gây ra các tổn thương
trên hệ thần kinh nếu tiếp xúc lâu ngày, chúng cũng có thể tích tụ trong cơ
thể gây ra những biến đổi gen hoặc các bệnh nguy hiểm.
21. Tổng số vi trùng: Chỉ tiêu này để đánh giá mật độ vi trùng trong nước, các
vi khuẩn này hoặc sống trong nước, hoặc từ đất rửa trôi vào nước hoặc từ các
chất bài tiết. Chỉ tiêu này không đánh giá về mặt độc hại đối với sức khỏe mà
chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước.
22. Coliform: Coliform sống ký sinh trong đường tiêu hóa của người và động vật,
chỉ tiêu này dùng để xem xét sự nhiễm bẩn của nước bởi các chất thải.
23. E. Coli: Chỉ tiêu này đánh giá sự nhiễm phân của nguồn nước nhiều hay ít
(nhiễm phân người hoặc động vật), gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đôi
khi thành dịch bệnh lan truyền.
III. CÁC BỆNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Hiện nay tỷ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc... ở
Việt Nam được xem là cao nhất thế giới. Những khảo sát gần đây cho thấy gần
100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun
móc. Các bệnh viêm da dị ứng, sán lá gan, lá lợn vẫn đang hoành hành… "Vấn
nạn" ô nhiễm nguồn nước và môi trường càng trở nên cấp bách hơn, khi các
loại bệnh xảy ra, đặc biệt là ỉa chảy, lỵ ngày càng có xu hướng gia tăng. Trong
6 tháng đầu năm 2003, dịch bệnh viêm não cấp của trẻ nhỏ dưới 15 tuổi lây truyền
qua đường tiêu hoá đã gây ra 323 ca mắc bệnh trong đó có 33 ca tử vong.
Các bệnh lây lan qua đường nước:

Hiện ở Việt Nam chưa phát hiện loại bệnh nào có liên quan đến asen, nhưng theo
nhiều nghiên cứu của thế giới, người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu
chứng đầu tiên như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, đôi khi
gây niêm mạc trên lưỡi hoặc sừng hoá trên bàn tay, bàn chân. Asen có thể gây
ung thư gan, phổi, bàng quang và thận, gây bệnh tim mạch, cao huyết áp...
Trầm trọng hơn trong những năm gần đây xuất hiện các “Làng ung thư” do ô nhiễm
môi trường đặc biệt là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như ở Hà Tây, Thạch Sơn,
Nghệ An, Quảng Trị… do tiếp súc và sử dụng nguồn nước và môi trường ô nhiễm
trầm trọng trong thời gian dài.
Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại một số quận huyện ngoại thành trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh …, Các gia đình
đều sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ thống
xử lý nước, nước bơm lên là dùng ăn uống trực tiếp, đây chính là nguyên nhân
dể mắc phải các chứng bệnh nêu trên.
CHƯƠNG 3
CÁC TÁC ĐỘNG GÂY SUY THOÁI
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Ngày nay, nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi
nhuận cao, con người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên
và môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đặc biệt đối với các nước đang
phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày càng
trầm trọng hơn.
Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên nguồn nước.
Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương thực thực phẩm,
phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm nhiều hình thức
dịch vụ…

I. ẢNH HƯỞNG DO HOẠT ĐỘNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
- Các dòng nước mặt (sông, kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải, nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Tình trạng lấn chiếm lòng, bờ sông kênh rạch để sinh sống, xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước mặt, cản trở lưu thông của dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Môi trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ, không những gây mùi hôi thối, ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội.

- Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt và các hoạt động khác của con
người gia tăng, dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan gây cạn
kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún, nhiễm mặn…
- Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật (Kết cấu giếng không tốt, giếng
gần khu vực nhà vệ sinh, hệ thống xử lý nước thải…), giếng khoan hư không được
trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước.

- Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày, rò rỉ nước từ van hư củ. Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây lãng phí nước.
- Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới, khi họat động khai thác nước
dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình khai thác, mực
nước mặn xâm nhập dần, đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm nhiễm mặn các công
trình khai thác trong khu vực. Mặt khác do nước biển tràn vào hoặc do con người
dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối, dẫn đến xâm nhập mặn vào tầng
chứa nước.
- Để gia tăng môi trường sống, con người phá rừng lấp đất, sang ruộng cất nhà
làm đường dẫn đến mất khả năng giữ nước của đất, lượng nước bề mặt không được
thấm bổ cập vào nước ngầm mà chảy vào sông rạch ra biển. Ngoài ra còn gây ngập
lụt, trược lỡ đất.
II. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
- Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh, vệ sinh chuồng trại, chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải, phần lớn cho vào ao hồ, bể tự hoại để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm.

- Việc nuôi các bè cá, bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt sông rạch đã
làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư thừa, sự khuấy
động nguồn nước, sự cản trở lưu thông dòng mặt.
- Nhiều giếng khoan ngoài ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo kỹ thuật gây
nhiễm bẫn, nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu …

- Với tình trạng sử dụng bừa bãi, tùy tiện các loại hóa chất trong phân bón,
các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh mương tưới tiêu
nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng.
- Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là nguyên nhân gây
thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt.

III. ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ
- Việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về. Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất.

- Các chất thải công nghiệp như khối, bụi…tạo nên mưa axít không những làm thay
đổi chất lượng nước ngọt, mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi trường sinh thái.
- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy, khu chế xuất khu công nghiệp chưa
được xử lý vào sông rạch, ao hồ gây ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất. Thậm chí
có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự thấm xuống đất hoặc đào
các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các tầng nước
dưới đất.

IV. ẢNH HƯỞNG DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁC
- Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một
khối lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải, rác thải gây bồi lắng và ảnh
hưởng đến việc tiêu thoát của dòng nước.
- Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật, nước rỉ ra từ rác thấm vào mạch
nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch.
- Các dòng nước mặt trên sông, kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng dầu của các
tàu bè đi lại, hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông, biển.

- Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước như sử dụng bừa bãi hoang phí, không đúng mục đích sử dụng.
CHƯƠNG 4
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước có thể nói là không khó khăn, tuy nhiên việc
này đòi hỏi sự thống nhất đồng lòng của tất cả mọi người trong xã hội.

Qua số liệu kiểm tra tình hình sử dụng nước tại một số quận
huyện ngoại thành thành phố cho thấy hơn 95% hộ gia đình sử dụng nước dưới đất
phục vụ cho nhu cầu ăn uống, tắm rửa vệ sinh hàng ngày và chăn nuôi, trồng trọt
… với hình thức khai thác chủ yếu là giếng khoan (khoảng 98%).
Qua kết quả khảo sát cũng cho thấy ý thức tự bảo vệ, giữ gìn vệ sinh nguồn nước
của người dân chưa cao, giếng khoan tại các hộ dân bố trí quá gần các nơi có
nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước cao như nhà vệ sinh, sàn nước, bể tự hoại,… và
phần lớn các giếng khoan không có bệ giếng bảo vệ. Việc sử dụng nguồn nước còn
nhiều hoang phí, chưa có ý thức tiết kiệm nước, không tận dụng nguồn nước mưa,
nước ao hồ để sử dụng trong tưới cây, làm mát… khai thác sử dụng tài nguyên
nước chưa đúng quy định của nhà nước, chưa nhận thức đầy đủ về bảo vệ tài nguyên
nước và môi trường. Do đó để có nguồn nước sử dụng bền vững, cần có những hoạt
động tích cực nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên nước tốt hơn.
I. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NHẰM BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1. Thường nạo vét sông rạch để khơi thông dòng chảy. Không lấn
chiếm lòng sông, kênh rạch để xây nhà, chăn nuôi thủy hải sản. Việc nuôi thủy
sản trên các dòng nước mặt phải theo quy hoạch.
2. Trong sản xuất nông nghiệp phải có chế độ tưới nước, bón phân phù hợp. Tưới
cây khi trời mát, ủ gốc giữ ẩm cho cây. Tránh sử dụng thuốc trừ sâu dư thừa,
không rõ nguồn gốc. Nên áp dụng các phương pháp sinh học để tiêu diệt sâu bọ
côn trùng.
3. Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nên nuôi trong chuồng trại có hệ thống xử
lý chất thải. Không chăn thả rong dễ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước và môi trường.
4. Sử dụng nước mặt (nước sông, hồ …), nước từ các công trình cấp nước công
cộng để hạn chế khai thác nước dưới đất và tránh gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn
nước. Nếu có công trình khai thác nước dưới đất thì phải khai thác đúng kỹ thuật
và sử dụng hợp lý, tiết kiệm:
a) Thế nào là khai thác nước dưới đất đúng kỹ thuật:
- Khoan đúng kỹ thuật: cần có hiểu biết về kỹ thuật khoan, hiểu biết sơ cấp
về cấu trúc địa chất do đó khi muốn khoan giếng phải thuê đơn vị có chức năng
hành nghề khoan (đơn vị có giấy phép hành nghề khoan giếng).
- Phải trám lấp giếng hư: Các giếng khoan hư hoặc không còn sử dụng phải trám
lấp đúng quy trình kỹ thuật để tránh xâm nhập nước bẫn vào tầng chứa nước.
- Có đới bảo vệ vệ sinh giếng: Các giếng khai thác nước phải cách xa nhà vệ
sinh, hệ thống xả thải, hệ thống xử lý nước thải từ 10m trở lên. Không khoan
giếng gần đường giao thông, không bố trí các vật dụng dễ gây ô nhiễm như hóa
chất, dầu nhớt … gần khu vực giếng.
- Các giếng phải được xây bệ cao, có nắp đậy.
- Có chế độ khai thác hợp lý: trước khi khai thác phải đánh giá khả năng cấp
nước, chất lượng nguồn nước và độ hồi phục nước của tầng chứa nước khai thác
từ đó có chế độ khai thác hợp lý.
- Có chế độ kiểm tra bảo trì giếng và thiết bị khai thác hàng năm để hạn chế
rủi ro hư giếng.
- Đối với các công trình khai thác lớn nên có hệ thống quan trắc nội bộ để theo
dõi mực nước và chất lượng nước thường xuyên.
- Kiểm tra chất lượng nước và xử lý nước đạt tiêu chuẩn theo mục đích sử dụng.
b) Sử dụng hợp lý:
Tùy theo mục đích sử dụng có thể dùng nước sạch, nước giếng, nước mưa, nước
sông, nước tái sử dụng …
- Sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt vệ sinh cá nhân, sản xuất thực phẩm, các
ngành sản xuất cần nước tinh sạch ta sử dụng nước sạch từ công ty cấp nước,
nước giếng hoặc nước sông đã qua hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép.
- Sử dụng để tưới cây, vệ sinh công nghiệp, vệ sinh chuồng trại…Có thể sử dụng
nước giếng, nước sông rạch hoặc nước thải đã được xử lý.
c) Sử dụng tiết kiệm:
Tập thói quen tiết kiệm nước từ những việc nhỏ trong hộ gia đình:
- Chỉ mở vòi nước khi cần sử dụng và chỉ mở mạnh vừa đủ dùng, không mở quá mạnh
hoặc để chảy tràn. Phải khóa vòi nước cẩn thận sau khi sử dụng.
- Khi rửa tay, rửa mặt, đánh răng … nên mở vòi nước khi nào cần dùng, hoặc hứng
sẵng trong thau, ca, trách để vòi chảy tự do gây lãng phí nước.
- Khi rửa thức ăn, rửa bát đĩa và các vật dụng khác nên hứng nước vào chậu hoặc
bồn lavabo vừa đủ dùng, nhằm tiết kiệm nguồn nước sử dụng đồng thời có thể giữ
lại phần nước dư sau cùng dùng cho các mục đích khác.
- Thường xuyên kiểm tra và sửa chữa ngay khi bể đường ống dẫn nước, hư khóa
van nước. Không để nước rò rỉ lâu ngày.
- Nên sử dụng các thiết bị tiết kiệm nước như:
+ Sử dụng bồn cầu có chế độ điều chỉnh cơ cấu xả nước điều chỉnh phù hợp nhằm
giảm thể tích nước xả.
+ Khuyến khích các nơi công cộng, trường học, văn phòng, siêu thị, chợ sử dụng
sản phẩm tiết kiệm nước như vòi nước có chức năng ngắt nước nhất định, ngắt
nước cảm ứng nhiệt, bồn vệ sinh cảm ứng nhiệt…
+ Sử dụng vòi sen có nhiều tia phun nước mạnh sẽ giảm được lượng nước sử dụng.
- Ngâm đồ bẩn trước khi giặt. Hạn chế giặt đồ làm nhiều lần trong ngày.
- Khi tưới cây, rửa xe, tắm rửa gia xúc, vệ sinh chuồng trại, phun làm mát…
dùng vòi nước có gắn thêm nòng phun vừa đáp ứng được yêu cầu sử dụng, vừa tiết
kiệm được nguồn nước sử dụng.
- Khuyến khích sáng tạo các hình thức sử dụng nước tiết kiệm nhưng vẫn đạt mục
đích sử dụng. Ví dụ:
+ Sử dụng nước tuần hoàn trong giải nhiệt máy móc thiết bị…
+ Phương pháp tưới tiết kiệm nước: hệ thống tưới máng thủy canh…
5. Có hình thức xả thải phù hợp:
- Phải xử lý nước thải trước khi xả vào cống, sông hồ, kênh rạch. Không đổ nước
thải chưa xử lý vào hố để tự thấm hoặc để chảy tràn lan trên mặt đất. Không
chôn nước thải, rác thải nguy hại vào lòng đất.
- Rác thải không được xả bừa bãi trên đường, hè phố, sông rạch ao hồ mà phải
thu gôm phân loại theo đúng quy định.
- Nhà vệ sinh, chuồng trại nuôi gia súc phải xây hệ thống xử lý như hầm biogas.
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC ĐƠN GIẢN
1. Đối với nước nhiễm sắt, phèn:
Đối với nước nhiễm phèn, ta xử lý ô nhiễm bằng vôi sống. Lấy 10g vôi sống cho
vào 140l nước, sau đó để nước lắng xuống, gạn lấy nước trong.
Nước nhiều sắt thường có màu vàng, mùi tanh. Cách đơn giản để làm sạch nước
nhiễm sắt là đổ nước vào thùng, khoắng lên nhiều lần rồi để lắng, chắt lấy nước
trong.
Có thể dùng phèn chua để xử lý nước nhiễm phèn sắt. Phèn chua giã nhỏ (nửa thìa
cho 25 lít nước) đổ vào thùng quấy nhiều lần để sắt và phèn kết tủa lắng dần
xuống đáy.
Ngoài ra có thể xử lý bằng phương pháp sục khí, qua giàn mưa và bồn lắng, lọc
để khử sắt. Làm giàn mưa bằng ống nhựa, khoan 150 - 200 lỗ có đường kính từ
1,5mm đến 2 mm tùy theo công suất máy bơm đang sử dụng. Dưới cùng của bể lọc
là lớp sỏi dày khoảng 1 gang, trên lớp sỏi là lớp cát dày khoảng 2,5 - 3 gang.
Phương pháp này có thể kết hợp xử lý được một số chất khác với hàm lượng thấp
như: Hydrogen sulfite H2S, Amoniac, Asen.
2. Xử lý Hydrogen sulfite H2S:
Nước chứa H2S thường không gây tác hại cho sức khoẻ, nhưng nó làm cho nước có
mùi và vị của trứng thối. Nước cấp có chứa hàm lượng H2S thấp khoảng 1,0 ppm
đã có đặc tính ăn mòn, làm xỉn màu các đố dùng bằng bạc hay đồng, làm cho quần
áo và đồ gốm có vết đen.
Nước có chứa hàm lượng H2S thấp có thể được xử lý bằng cách cho lọc qua than.
H2S được hấp phụ trên bề mặt của các hạt than. Chúng ta phải định kỳ thay các
hạt than trong bể lọc (tùy thuộc vào khả năng hấp phụ của than và hàm lượng
H2S trong nước).
3. Xử lý nước cứng:
Nước cứng là thuật ngữ dùng để chỉ nước có chứa hàm lượng lớn các ion như Ca2+,
Mg2+; loại nước này thường ảnh hưởng đến tuổi thọ các thiết bị sử dụng nước
hằng ngày. Các cách xử lý đơn giản:
Cách 1: Đun sôi nước sẽ làm các ion này kết tủa.
Cách 2: Dùng thiết bị có ngăn chứa các hạt lọc cationit. Theo quá trình trao
đổi ion, hạt cationit tích điện âm sẽ hút các thành phần đá vôi trong nước,
làm sạch nước.
4. Khử trùng nước sinh họat:
Để đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế, nước sinh hoạt bắt buộc phải được khử trùng.
Phương pháp khả thi rẻ tiền là dùng nước Javen (hypochlorit natri hoá học).
Cách xử lý khác là sục clo khí hoặc pha chế bột Clorine vào nước. Cũng có thể
khử trùng nước bằng ozone hay tia cực tím, nhưng không phù hợp với việc nước
sau khử trùng phải tiếp tục lưu chuyển trong đường ống và bể chứa.
III. NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN CÙNG NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM
TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
A. Trách nhiệm của nhà nước và chính quyền địa phương:
1. Xây dựng và phổ biến các văn bản Luật, Nghị định, Quy định về sử dụng và
bảo vệ Tài nguyên nước.
* Một số văn bản Luật đã được ban hành rộng rãi:
- Luật Tài nguyên nước và thông tư hướng dẫn thực hiện;
- Các văn bản xử lý xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên và
Môi trường
* Các văn bản đang soạn thảo:
- Chính sách tính thuế Tài nguyên nước, thu phí và lệ phí nhằm giới hạn mức
sử dụng và nâng cao ý thức tiết kiệm trong vấn đề sử dụng và bảo vệ nguồn tài
nguyên nước.
- Chương trình giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc
sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước. Chính sách khen thưởng, khuyến
khích các công trình nghiên cứu sử dụng tiết kiệm nước.
2. Hướng dẫn các hình thức khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước đúng kỹ
thuật để bảo vệ Tài nguyên nước.
3. Điều tra, khảo sát đánh giá nguồn tài nguyên và lập kế họach phân vùng khai
thác hợp lý. Điều tra đánh giá những tác động gây ảnh hưởng đến Tài nguyên nước.
4. Tuyên truyền vận động và tổ chức nhiều cuộc thi về ý thức sử dụng tiết kiệm
và bảo vệ Tài nguyên nước trong nhân dân từ cấp quận đến cấp phường xã.
B. Trách nhiệm của người dân:
1. Nêu cao ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài nguyên nước:
Người dân phải nhận thức được sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên nước không chỉ cho
hiện tại mà còn vì thế hệ tương lai, do đó phải tìm hiểu và nắm vững các quy
định pháp luật về bảo vệ Tài nguyên nước thông qua báo, đài phát thanh, truyền
hình... và tích cực phát huy hàng ngày ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ Tài
nguyên nước.
2. Nêu cao tinh thần tự giác:
Tự giác chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật của nhà nước về bảo vệ
Tài nguyên và môi trường
3. Quyết tâm phối hợp với Nhà nước trong công tác bảo vệ Tài nguyên nước
- Phát hiện và mạnh dạng tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của nhà nước trong
sử dụng và bảo vệ Tài nguyên và Môi trường, không bao che cố tình làm trái;
- Tham gia các phong trào kêu gọi hành động vì mục đích bảo vệ Tài nguyên và
Môi trường.
Số điện thoại đường dây nóng số 08.8293 661